Review thành phần

AHA – Từ cơ bản tới nâng cao

Tác giả: Đinh Tùng Phong

AHA là các acid hữu cơ yếu, được phân biệt về mặt hóa học bởi một hoặc nhiều nhóm hydroxyl liên kết cộng hóa trị với α-cacbon của acid cacboxylic. Cấu trúc này thể hiện đặc tính tan trong nước hoặc ưa nước của AHA. Loại AHA nhỏ nhất là các acid monocarboxylic – glycolic (2-hyxroxyethanoic acid), lactic (2-hydroxy-propanoic acid) và acid mandelic (2-hydroxy-2-phenylethanoic acid). Glycolic acid là phân tử 2 cacbon phù hợp với công thức HO-CH2-COOH. Ưu điểm của glycolic acid là ổn định, không màu, không mùi, tan trong nước và không độc hại nếu uống phải (24). Lactic acid, có một chuỗi 3 cacbon; công thức được hiển thị trong bảng duới nhé. Lactic acid có thể tồn tại ở một số dạng đồng phân: L (+) (levorotatory), D (-) (dextrorotatory), hoặc hỗn hợp DL raxemic (ai học hóa hữu cơ sẽ biết những dạng đồng phần này nhe). L (+) là đồng phân có trong tự nhiên, trong khi hỗn hợp D (-) và raxemic có thể được tạo ra thông qua quá trình lên men bởi một số chủng vi khuẩn nhất định. Hai loại đã được chứng minh là có hiệu quả ngang nhau. Các AHA phụ bao gồm dicarcoxylic acid (malic và tartaric acid) và tricarboxylic acid (citric acid), lớn hơn với chuỗi carbon dài hơn. AHA trọng lượng phân tử cao hơn (malic acid, citric acid, mandelic acid, tartaric acid) không thâm nhập tốt vào lớp sừng như AHA có trọng lượng phân tử thấp hơn (glycolic acid và lactic acid).

 

Hình 1: Cách đánh ký tự Hy Lạp trên mạch carbon

Tùy vào từng nhóm thế nằm ở vị trí nào trên mạch carbon thì sẽ được gọi tên theo quy tắc: chữ cái Hy Lạp + nhóm thế + acidví dụ như OH nằm ở vị trí α thì sẽ được gọi là alpha hydroxy acid, β thì được gọi là beta hydroxy acid,…

 

 

Hình 2: Nhóm -OH nằm ở vị trí α trên mạch carbon, tạo ra những tính chất đặc trưng cho AHA dễ tan trong nước, ngoài ra còn phụ thuộc vào nhóm thế -R

Bảng 1: Các thế hệ AHA khi thay đổi nhóm thế -R

Mình cũng muốn đánh sâu về cấu trúc rồi suy ra tính chất nhé! Tại sao mọi người lại thường nghe nói AHA có khả năng tan trong nước nhiều hơn trong dầu và chúng có khả năng giữ ẩm tốt cho da hơn là Salicylic acid? Trên cấu trúc phân tử AHA có xuất hiện nhóm OH tại vị trí alpha, nhờ vào nhóm OH tạo liên kết hydro với H2O giúp cho phân tử AHA giữ nước tốt hơn, mình sẽ biểu diễn hình vẽ dưới đây nhé

Hình 3: Khả năng liên kết với H2O giúp cho AHA giữ ẩm tốt hơn

2. Cơ chế tác động của AHA

Sơ lược về cấu trúc của AHA bằng kiến thức hóa học rồi thì đến với phần cơ chế tác động của AHA tấn công trên da như thế nào nhe!!!

a, Tác động trên thượng bì

Để nói về cơ chế tẩy tbc ở da thì chúng ta sẽ đề cập về cấu trúc da 1 chút xíu nhé.

Chúng ta cần để ý tới tế bào sừng lớp hạt (Granular layer) như trên hình, nơi đó sẽ tiếp giáp với lớp tế bào chết ở trên da, ngoài ra, theo 1 chu kỳ của da là khoảng 1 26-42 ngày thì lớp sừng sẽ tự rời khỏi da(1), lớp tế bào chết sẽ được thay đổi, chính vì vậy tế bào sừng lớp hạt này sẽ cần các ion Ca2+ để liên kết các sản phẩm của Granular layer sinh ra và tạo thành 1 lớp sừng trên da (1).

Đặt vấn đề là nếu một người bị dày sừng thì nguyên nhân nằm ở đâu? Đó chính là do ion Ca2+ đã sinh ra quá nhiều và các tế bào sừng này kết nối càng chặt hơn, dày hơn, dẫn tới da bị xuống sắc, dày sừng, và bị bí lcl, mụn,… (1).

Lúc này các phân tử AHA có nhiệm vụ tấn công vào các kênh ion Ca2+ này để cắt đứt đi tín hiệu giữa các mạch tế bào sừng, giúp cho tbc được cắt nhỏ ra hơn, dễ dàng đào thải (2). Mặc dù cơ chế hoạt động chính xác vẫn chưa được hiểu đầy đủ, nhưng ở trong bài nghiên cứu số (3), Wang và các cộng sự đã đề xuất rằng việc bôi AHA tại chỗ sẽ làm giảm nồng độ ion Ca2+ trong lớp biểu bì. Mức độ giảm các ion Ca2+ từ các điểm nối giữa tế bào sừng này trực tiếp dẫn đến sự bong tróc của các tế bào sừng. Khi quá trình bong tróc xảy ra, AHA có thể thâm nhập vào các tầng sâu hơn của lớp biểu bì và thậm chí vào lớp hạ bì. Tác dụng mô học của AHA bao gồm lớp sừng mỏng đi kèm với chứng sần sùi. Nồng độ ion Ca2+ giảm do AHA tác động cũng có thể thúc đẩy tăng sinh tế bào và làm chậm sự phân hóa của tế bào sừng.

Nếu mà bạn nào học về hóa học thì cũng có nghe về khái niệm chelate hóa, tức là 1 chất có khả năng sẽ tạo phức với 1 ion kim loại nào đó, giúp cho ion kim loại không bị cản trở khi đi vào trong cơ thể, nhưng trong trường hợp này thì AHA sẽ chelate hóa ion Ca2+, rồi đào thải ra khỏi da (3). Quá trình này sẽ làm mất đi các ion Ca2+ của desmosomes. Khi Ca2+ giảm, sự kết dính của tế bào bị phá vỡ và quá trình tẩy tế bào chết diễn ra. Bên cạnh đó trong bài nghiên cứu số (3), Wang đề xuất thêm rằng việc giảm ion Ca2+ trong lớp biểu bì cũng có xu hướng thúc đẩy sự phát triển của tế bào và làm chậm quá trình phân hóa tế bào, và do đó cần thận trọng khi sử dụng quá mức (tức là ở nồng độ quá cao) và lâu dài các loại AHA.

Chính vì vậy khi mà AHA được sử dụng 1 cách tối ưu nhất, thì sẽ mang lại một bề mặt mịn hơn, ít vảy hơn và cải thiện sự xuất hiện của da sần hoặc lớp da già cỗi. Sự bong tróc từ bề mặt giúp đánh bật các nhân mụn và ngăn ngừa tắc lỗ chân lông. Tuy nhiên, AHA không thể thâm nhập vào lỗ thông của nang lông. Với việc áp dụng AHA, các bệnh nhân có làn da khô, da sần sùi và mụn trứng cá, cùng với sự xuất hiện của các nốt sần do ánh nắng gây ra cũng được cải thiện. Ngoài ra, khả năng tái tạo biểu bì và làm sáng sắc tố giúp cho AHA có khả năng hữu ích trong việc điều trị da bị tổn thương do ánh nắng, tẩy da chết, sần sùi, dày sừng tiết bã, mụn trứng cá và ngăn ngừa teo da do corticosteroid (3), vấn đề này mình sẽ đề cập ở phần II nha!

b, Tác động tới trung bì

Khi sử dụng AHA lâu dài, chúng ta có thể thấy được sự thay đổi đáng kể trên da khi sử dụng AHA tùy thuộc vào nồng độ (Bảng 2). AHA mang lại khả năng làm tăng độ dày của da do tăng sinh nguyên bào sợi và sản xuất collagen (4). Ngoài ra có nghiên cứu số (5), (12) cho thấy rằng khi sử dụng 25% Glycolic acid, Lactic acid hoặc Citric acid cho cánh tay trong 6 tháng làm tăng độ dày của da khoảng 25%. Cả lớp biểu bì và lớp hạ bì nhú đều dày hơn mà không bị viêm, với lớp hạ bì cho thấy tăng glycosaminoglycans (GAG), tăng mật độ collagen, giảm đi lượng Melanin và cải thiện chất lượng của Elastin (5).

Bảng 2: Cách sử dụng AHA phụ thuộc vào nồng độ và pH để mang lại hiệu quả trên da tùy vào mục đích muốn tấn công vào thượng hoặc trung bì (6)

Để kiểm chứng lại những khả năng mà AHA mang lại thì trong bài nghiên cứu số (7), họ đã chứng mình rằng Glycolic acid đã hoạt hóa chức năng của nguyên bào sợi. Bằng cách kiểm tra tác động của 2 AHA đó là Glycolic acid và Malic acid lên nguyên bào sợi ở da được nuôi cấy, kết quả cho thấy rằng Glycolic acid làm gia tăng tế bào và sản xuất collagen tốt hơn, về phần Malic acid thì lại ít hơn hẳn.

Trong một nghiên cứu khác (8), Okano và các cộng sự của ông đã phát hiện ra rằng Glycolic acid trực tiếp làm tăng tổng hợp collagen bởi các nguyên bào sợi và điều chỉnh sự suy thoái ma trận và sản xuất collagen thông qua các cytokine do tế bào sừng tiết ra. Sự gia tăng collagen loại I và các chất nền gian bào (cụ thể là hyaluronic acid) dẫn đến tăng độ dày và hydrat hóa lớp trung bì, đồng thời cung cấp môi trường nước để khuếch tán các chất dinh dưỡng và đào thải độc tố.

Đối với việc điều trị sắc tố do ánh nắng gây ra thì AHA đã đáp ứng rất tốt, nó làm giảm sự xuất hiện của các sắc tố thông qua những tác động mang lại trên lớp trung bì (4), (8)

II. Các tác dụng sinh học

  1. Trị mụn trứng cá

Như mình cũng đã nói ở phần trên, AHA có tác động vào lớp thượng bì, nhằm giảm đi ion Ca2+ để cắt đứt các tế bào chế và làm thoáng lỗ chân lông ra, khiến cho vi khuẩn P.Acnes tiếp xúc với không khí và chết dần đi. Ngoài ra khi sử dụng AHA ở nồng độ cao để peel thì có tác dụng để giảm mụn, nám, thâm,.. đa dụng hơn BHA nhiều. Mình sẽ làm rõ vấn đề trị mụn bằng các phương pháp khác nhau ở dưới đây nhé.

Trong bài nghiên cứu số (9), Kessler và cộng sự của ông đã so sánh hiệu quả của AHA và BHA thông qua nghiên cứu mù đôi, với số lượng là 20 người và mức ý nghĩa là 5%, họ là những bệnh nhân bị mụn trứng cá từ nhẹ tới trung bình. 30% Glycolic acid hoặc 30% Salicylic acid được bôi ngẫu nhiên lên 1 bên mặt sau mỗi 2 tuần trong tổng số 6 lần điều trị (phương pháp peel da đấy mọi người). Chỉ sau 2 tuần thì có 1 quan sát viên trong thí nghiệm bảo rằng cả 2 lần peel da đều giảm đáng kể mụn không viêm và mụn viêm. Kết quả mang lại là như nhau giữa Glycolic và Salicylic.

Abels và cộng sự của ông (10) đã kiểm tra hiệu quả lâm sàng và khả năng dung nạp của Glycolic acid 10% ở dạng nhũ tương dầu trong nước (o/w) với pH=4 trong một thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi, có so sánh với giả dược. Nghiên cứu này được áp dụng 1 lần mỗi ngày với 120 bệnh nhân bị mụn trứng cá nhẹ trong 90 ngày dưới dạng đơn trị liệu. Trong nghiên cứu này, mụn trứng cá được cải thiện với mức ý nghĩa =5%, bắt đầu cải thiện từ ngày 45 và chiều hướng tốt hơn đến ngày thứ 90 ở nhóm xài Glycolic acid.

Từ những nghiên cứu trên cho thấy việc sử dụng AHA để điều trị mụn bằng Glycolic acid là hiệu quả. Vì kích thức phân tử Glycolic acid là nhỏ nhất trong nhóm AHA (nhỏ hơn cả Salicylic acid), thuận tiện để đi xa vào trong da hỗ trợ điều trị mụn.

Ngoài ra, mình có tips nhỏ mà mình học được từ Kligman (17) và Elson (18), đó là AHA sẽ có hiệu quả hiệp đồng khi kết hợp chung với Tretinoin để cải thiện mụn trứng cá hơn là sử dụng đơn lẻ. Lý do của cách sử dụng này đó chính là Glycolic sẽ hỗ trợ quá trình đẩy mụn trứng cá, trong khi Tretinoin sẽ ngăn chặn quá trình hình thành nhân mụn mới. Chính vì vậy 1 phác đồ điều trị của bác sĩ da liễu cho bệnh nhân bị mụn trứng cá đó là Retinoid vào ban đêm, AHA vào buổi sáng, hoặc là sẽ được peel Glycolic acid hằng tháng. Cách sử dụng trên mình thấy khá hiệu quả cho việc trị mụn không viêm, viêm và nốt sần trên bề mặt.

Tuy nhiên sự lựa chọn nào cũng sẽ có mặt trái, mặt trái ở đây đó chính là ai bị bệnh rosacea + bị mụn thì sẽ khó để sử dụng cái này, vì AHA + Tretinoin sẽ làm đỏ da hơn nhiều. Chính vì vậy lúc này cần phải dùng riêng lẻ Glycolic acid để tấn công. Bằng chứng đó là vào năm 1996, Briden và các đồng nghiệp (19) của ông đã báo cáo về những bệnh nhân bị trứng cá đỏ mãn tính và không thể thích nghi với các liệu pháp thông thường. Khi thêm vào chế độ peel Glycolic acid vào phác đồ điều trị thì cải thiện rõ rệt quá trình viêm à Các mụn mủ, ban đỏ, nốt sần trên da giảm rõ rệt. Để giải thích điều này thì AHA có thể ngăn chặn sự gắn kết của Demodex trong nang trứng cá thông qua tác dụng của chúng trên sự kết dính của tế bào sừng, đồng thời giảm đi lượng cation Ca2+ trong các tế bào sừng à Tbc dễ đứt rời hơn, chia nhỏ và đào thải 1 cách dễ dàng.

Tiết lộ thêm đó là để giúp những bệnh nhân bị rosacea thì cần phải sự dụng đến Polyhydroxy acid (PHA) là Gluconolactone (20), loại acid này là dẫn xuất của AHA, ít gây châm chích hơn và giúp giữ nước tốt hơn vì có rất nhiều nhóm -OH có thể liên kết với nước –> Giữ ẩm nhiều lần hơn AHA. Khi kết hợp Gluconolactone và Azelaic sẽ giúp cải thiện tình trạng đỏ da vã giãn mạch máu ở bệnh nhân rosacea (21).

2. Chống lão hóa

Nghe có vẻ lạ nhưng AHA có khả năng chống lão hóa, bằng cách lột bỏ đi lớp thượng bì đã bị tổn thương bởi ánh nắng, nếp nhăn thông qua việc peel Glycolic acid với nồng độ caobằng những nghiên cứu dưới đây thì mình sẽ cho các bạn thấy lợi ích chống lão hóa mà AHA mang lại nhé!

Newman và các đồng nghiệp của ông (11) đã nghiên cứu tác dụng lâm sàng và mô học của Glycolic acid 50% trên da bị tổn thương bởi ánh nắng. 41 tình nguyện viên đã được sử dụng trên 1 nửa mặt là Glycolic 50%, với tần suất là mỗi tuần 1 lần và được sử dụng trong 4 tuần. Họ đã được đánh giá rằng có sự giảm kết cấu thô ráp ở da và nếp nhăn nhỏ, ít bị dày sừng bởi ánh nắng hơn và sự sáng da nhẹ của các nốt nám. Khi các nhà nghiên cứu phân tích mô học thì cho thấy sự mỏng đi của lớp sừng, sự nâng cao của lớp hạt và sự dày lên của lớp biểu bì. Các nhà nghiên cứu còn thấy sự gia tăng độ dày collagen ở da trong các tình nguyện viên đó.

3. Tăng sắc tố

Nếu bạn nào để ý thì mình cũng đã từng viết 1 bài layer các thành phần để đạt hiệu quả cao, mình đã có cách layer AHA + vit C giúp cải thiện sáng da, giảm thiểu sắc tố. Lý do thì mình sẽ đào sâu kỹ hơn trong bài này nhé.

Glycolic và Lactic acid là 2 acid được áp dụng trong phương pháp điều trị tổn thương sắc tố như nám da do ánh nắng, nám da nội tại và tăng sắc tố sau viêm (thâm đen, đỏ). Yamamoto và đồng nghiệp (13) đã nghiên cứu sự khác việt về mô học ở da được điều trị bằng phương pháp peel bằng Glycolic, lactic, citric, acetic mỗi tuần 1 lần và duy trì trong 6 tuần. So với da được peel bằng Citric và Acetic thì những bệnh nhân được peel bằng Glycolic và Lactic có sự cải thiện rất tốt, kết quả là melanin giảm ở lớp đáy và giảm sự lắng đọng melanin trong các lớp sừng. Cơ chế hoạt động có thể liên quan đến:

  • Tái cấu trúc và thay đổi biểu bì, dẫn đến phân tán sắc tố nhanh hơn
  • Ức chế quá trình hoạt động của Tyrosinase bằng cách ngăn chặn dòng tế bào hắc tố

Ngoài ra, Glycolic acid có thể được sử dụng kết hợp với các chất làm trắng khác như Hydroquinoneđể tăng cường khả năng thâm nhập của các tác nhân khác, mang lại phản ứng điều trị tốt hơn. Bác sĩ da liễu Kligman đã thiết kế 1 hỗn hợp làm trắng khá tốt nhưng cũng khá mạnh, đó là Hydroquinone + Tretinoin và Cortisteroid, còn được gọi là “Chế độ Kligman”. Khi chúng ta kết hợp Glycolic acid với cường độ trung bình + “Chế độ Kligman” thì sẽ cải thiện hiệu quả làm sáng da hơn so với là dùng công thức của Kligman đơn lẻ (14). Ngoài ra khi kết hợp Glycolic acid với Azelaic acid 20% sẽ cải thiện đáng kể về vấn đề sắc tố da hơn là sử dụng Azelaic đơn thuần (15), nhờ vào việc ngăn chặn đường đi của melanosome. Ở đây mình còn 1 cách kết hợp khác nữa đó chính là AHA + L-Ascorbic acid, layer kiểu này cũng sẽ cải thiện đáng kể về mặt sắc tố trên da, giúp chống oxy hóa mạnh hơn nhiều lần nữa đó nhe! Ngoài ra cũng có thể sử dụng liều cao để cải thiện các nốt sần do ánh nắng mặt trời gây ra đó là 85% Lactic acid trong vòng vài phút (16), nhưng tiếc là nồng độ đậm đặc này không có sẵn.

4. Điều trị da tổn thương ánh nắng

Việc sử dụng AHA dạng bôi cũng làm tăng sản xuất collagen và các chất nền gian bào. Những thay đổi này sẽ làm cải thiện các dấu hiệu tổn thương do ánh nắng gây ra ở biểu bì và hạ bì. Bernstein và đồng nghiệp (4) cũng có thấy sự gia tăng hàm lượng Hyaluronic acid trong biểu bì và trung bì, cũng như tăng 2,8 lần mRNA khi sử dụng 20% Glycolic acid trong 3 tháng trên vùng da điều trị ở cẳng tay. Để giải thích điều này thì Glycolic acid gián tiếp làm tăng sinh lượng HA trong vùng được sử dụng, mà phân tử HA có thể liên kết với nước gấp 10.000 lần so với trọng lượng của nó, chính vì vậy mà HA có thể cải thiện đáng kể về sự xuất hiện của các nếp nhăn sâu.

Như mình đã đề cập ở trên thì AHA + Tretinoin sẽ là bộ đôi trị mụn, nhưng xuống đây nó còn thể hiện khả năng điều trị nếp nhăn và vấn đề sắc tố da khi sử dụng AHA vào buổi sáng và Retinoid vào buổi tối. Đây cũng là combo khá hiệu quả trong mọi trường hợp muốn cải thiện cho da tốt hơn, nên bắt đầu điều trị với nồng độ thấp, chẳng hạn như AHA 5%, rồi tăng lên 10% khi đã quen dần. Nhưng nhớ phải sử dụng kem chống nắng phổ rộng và hấp thụ năng lượng UV tốt vào ban ngày nhé!

5. Peel da với AHA

Peel da với Glycolic acid có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Có nhiều sản phẩm khác nhau ở nồng độ, độ pH của sản phẩm, nồng độ AHA thường nằm trong khoảng 20 – 70%, vì 2 yếu tố này đóng vai trò quan trọng của sản phẩm. Khi bắt đầu peel thì bệnh nhân cần đi từ nồng độ thấp đến nồng độ cao khi da dung nạp được. Ở đây mình có 1 lưu ý nhỏ đó là thường những người ở da dầu thì ít gây ra kích ứng hơn, nhưng đối với bệnh nhân có làn da bị tổn thương quá mức hoặc do cơ địa thì nhạy cảm hơn rất nhiều2 phác đồ peel AHA mình để ở dưới đây để mọi người tham khảo nhe.

Bảng 3: Phác đồ peel của các bác sĩ da liễu (được dịch và tham khảo tại (24))

Ngoài ra, việc peel glycolic acid cũng có thể được tăng cường khi kết hợp với các loại acid khác, như TCA hoặc dung dịch Jessner (14g Resorcinol, 14g Salicylic acid, 85% Lactic acid trong ethanol 95%), nhưng cũng cần lưu ý khi kết hợp như vậy cũng có thể tăng khả năng peel quá mức, dẫn đến nhạy cảm hơn. Mình cũng khuyên với các bạn rằng chúng ta nên bắt đầu với các toner hay các sản phẩm chứa AHA chuyên biệt để da có thể làm quen trước trong vài tháng, sau đó mới nghĩ đến phương pháp peel nhé.

6. Áp dụng cho những bệnh nhân Vảy nến

Thuốc tiêu sừng sẽ rất là hữu dụng để giảm sự tăng sừng hóa liên quan đến bệnh vẩy nến. 1 thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi do Akamine và đồng nghiệp thực hiện (22), họ đã chứng minh rằng AHA/PHA 20% có hiệu quả như Salicylic acid trong việc làm giảm sự đóng vảy của các mảng vẩy nến. Ngoài ra công thức dạng cream có thể mang lại kết quả nhanh hơn và ít gây kích ứng hơn so với Salicylic acid. Kostarelos và đồng nghiệp (23) đã phát hiện ra rằng kem dưỡng chứa 10% Glycolic acid có hiệu quả trong điều trị bệnh vẩy nến da đầu và sẽ đạt hiệu quả hơn khi được kết hợp với 0,1% Betamethasone (1 dạng của corticoid).

III. Hệ nền và tính sinh khả dụng trên da

Hiện nay các nhà sản xuất đã phát triển các sản phẩm chứa AHA dưới dạng srm, toner, lotion, kem dưỡng, gel, mặt nạ, xịt, peel, kem chống nắng. Các sản phẩm chứa AHA này có nồng độ từ 1% – 20% và thường là glycolic acid trong dạng kem và lotion. Ngoài ra trong các sản phẩm peel cũng chứa từ 20% – 70% AHA để lột sừng hiệu quả hơn.

Nhưng sẽ có 2 vấn đề cần quan tâm tới khi lựa chọn AHA:

  • Về lượng acid tự do và độ pH: Thường các sản phẩm trên thị trường hiện nay tuyên bố các AHA của họ được trung hòa hoặc trong 1 hệ đệm để ít gây kích ứng hơnTức là AHA được trung hòa với kiềm vô cơ (NaOH hoặc NH4OH) hoặc hữu cơ để nâng cao độ pH. Việc nâng cao độ pH nhằm mục đích là ít gây kích ứng trên da hơn khi pH ~ pKa của acid đó. Nguyên tắc này đã được Westwood-Squibb Pharmaceuticals sử dụng trong việc phát triển kem dưỡng da Lac-Hydrin, có chứa 12% amoni lactate. AHA cũng có thể được đệm để tạo ra một hợp chất chống lại sự thay đổi độ pH khi thêm acid hoặc kiềm. Ví dụ, glycolic acid có thể được đệm bằng sodium glycolat và monosodium phosphate để duy trì độ pH trong khoảng 2,8 đến 4,8. Tuy nhiên, những thao tác này làm giảm cả nồng độ acid tự do và hiệu quả của chế phẩm AHA. Tùy thuộc vào công thức, lượng acid tự do có thể khác với nồng độ acid trong công thức, nghĩa là một thương hiệu sở hữu sản phẩm glycolic acid có trên thị trường với nồng độ 15%, nhưng chỉ chứa 5% acid tự do, trong khi công thức 10% của một thương hiệu khác có 10% acid tự do, làm cho sản phẩm sau này mạnh hơn mặc dù nồng độ công thức thấp hơn (24). Nên khi chúng ta mua AHA thì ngoài nhãn có để là 5% thì cũng chưa chắc là 5% hoàn toàn đâu nhé! Ít hơn nhiều đấy!!!
  • Yếu tố thứ 2 đó là hệ thống đưa dẫn: Yếu tố này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hấp thụ. 1 số thành phần có thể gây cản trở hoặc tăng cường các tác dụng dược lý của AHA. Chẳng hạn như Glycerin sẽ có ái lực đáng kể so với AHA, vì tạo nhiều cầu nối liên kết hydro với AHA, khiến cho AHA khó có thể đi xa được vào da. Nhưng ngược lại thì Propylene glycol sẽ tăng cường sự thâm nhập của AHA bằng cách điều chỉnh tính thẩm thấu của AHA vào lớp sừng (25). Ngoài ra theo mình học được ở phòng thí nghiệm đó là khi cho cồn vào những dung dịch có nước, thì sẽ làm giảm độ tan của chất đó và khiến cho nó về trạng thái nguyên bản (không phân ly), áp dụng vào mỹ phẩm thì chúng ta cũng suy luận được khi AHA ở nền cồn khô, thì cồn khô sẽ liên kết với nước, làm giảm đi độ tan của AHA trong nước –> Giảm sự phân ly H+, lúc này AHA sẽ ở trạng thái tự do nhiều hơn và mang lại hoạt tính sinh học trên da tốt hơn.

  1. Kích ứng và sự thay đổi sắc tố

Lưu ý khi sử dụng AHA đó chính là cần phải đi từ nồng độ thấp tới nồng độ cao và có 1 tần suất rõ ràng, kết hợp với các sản phẩm phục hồi da phù hợp. Đã có những trường hợp bị kích ứng với AHA bao gồm bỏng rát, viêm da, ngứa, kích ứng và dễ bị cháy nắng, nhất là dễ bị viêm da tiếp xúcVấn đề này chúng ta có thể giải quyết bằng cách điều chỉnh lại tần suất sử dụng và lựa chọn các sản phẩm có độ pH cao hơn 1 chút.

Để giải thích rõ hơn thì mình sẽ có 1 dẫn chứng cho mọi nguời thấy rằng để giảm khả năng kích ứng thì phải tăng độ pH của sản phẩm. Trong bài nghiên cứu số (26), 1 sản phẩm có chứa Glycolic acid 10% đã được thử nghiệm trên 6 mức pH khác nhau trải dài từ 2.0 – 4.4. Kết quả thử nghiệm cho thấy rằng sự kích ứng sẽ trầm trọng hơn khi pH ở mức thấp hơn. Nhưng khi mà da chúng ta đã đủ khỏe rồi thì mình cũng muốn khuyến cáo là nên tăng nồng độ AHA và giảm lượng pH thấp xuống, vì càng nhiều acid tự do, thì càng tăng sự kích thích của collagen và Glycosaminoglucan (27).

Ảnh hưởng thứ 2 đó là tăng sắc tố sau khi peel da nhưng không chống nắng kỹ. Trong bài nghiên cứu số (28) đã chỉ ra rằng nếu điều trị tại chỗ ngắn hạn bằng Glycolic acid sẽ gây ra sự sạm da do tia UVB, UVA ở 1 số đối tượng.Tăng sắc tố do peel da bằng AHA có thể thấy ở bệnh nhân có da loại IV đến VI theo thang Fitzpatrick, nhưng bù lại thì AHA được dung nạp tốt ở nhóm da loại này.

2. Nhạy cảm với ánh sáng

Nhiều nghiên cứu đã phát hiện ra rằng việc bôi axit glycolic trong thời gian ngắn làm tăng độ nhạy cảm của da với tia cực tím. Trong một nghiên cứu (29) trên 14 bệnh nhân có loại da từ II đến III theo thang Fitzpatrick (tức là da trắng ấy mọi người), da được điều trị bằng glycolic acid dẫn đến tăng độ nhạy cảm với ánh sáng, được đo bằng liều ban đỏ tối thiểu (MED) giảm và sự gia tăng tổn thương deoxyribonucleic acid (DNA) và các tế bào bị cháy nắng. Sự nhạy cảm với ánh nắng được hồi phục trong vòng 7 ngày sau khi ngừng điều trị. Mình có tìm về cơ chế mà Glycolic acid có thể làm tăng tính nhạy cảm với ánh sáng nhưng mà vẫn chưa thấy. Nhưng có thể là do nhiều tia UV truyền qua da thường được dưỡng ẩm hơn là da khô, bởi vì da khô sẽ phân tán hoặc phản xạ tia UV (không đi sâu vào da làm nhạy cảm hơn), nhưng mình thấy nên có 1 cái nghiên cứu nào đó thiết thực hơn nhe! Có thể lập luận của mình sai nên mọi người có thể đóng góp ý kiến bằng cách cmt ở cuối bài nhé!

Nhưng mà đừng lo về việc này nữa vì các brand khi sản xuất ra sản phẩm cũng có 1 vài quy định đó là chúng phải được pha chế <30% với độ pH từ 3.0 trở lên, và có kèm theo hướng dẫn sử dụng kem chống nắng hằng ngày. Vào năm 2005, FDA đã khuyến nghị dán nhãn các sản phẩm có chứa AHA như một thành phần hoạt động với cảnh báo sau: ‘Cảnh báo cháy nắng: Sản phẩm này chứa α-hydroxy acid (AHA) có thể làm tăng độ nhạy cảm của da với ánh nắng mặt trời và đặc biệt là khả năng bị cháy nắng. Sử dụng kem chống nắng, mặc quần áo bảo vệ và hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong khi sử dụng sản phẩm này và trong một tuần sau đó (24).

3. Cách sử dụng AHA

Phần quan trọng nhất cũng đã đến rồi, ngắn gọn nhưng xúc tích:

  • PHẢI CÓ KEM CHỐNG NẮNG VÀ CHỐNG NẮNG THẬT KỸ x7749!!!
  • Do AHA có tính giữ nước lại cho da, nên thích hợp với da khô để tẩy tế bào chết, nhưng không có nghĩa là da dầu không sử dụng được nhé.
  • Thông thường để trị mụn thì sẽ có các combo: Glycolic acid (tối) + BHA (sáng); Glycolic acid + Azelaic acid; Glycolic acid + Retinoid; Glycolic acid + BPO; peel AHA;…
  • Để trị về sắc tố da: Glycolic acid + LAA; Glycolic acid + Azelaic acid; Glycolic acid + Retinoid; peel AHA nồng độ cao
  • Nếu như người mới bắt đầu thì nên chọn các sản phẩm AHA nồng độ khoảng 5% với độ pH cao 1 chút (khoảng >3.5). Sau khi sử dụng được 1 thời gian quen rồi thì có thể tăng nồng độ lên cao hơn + giảm độ pH của sản phẩm < 3.5
  • Tùy theo mục đích cải thiện da mà có thể lựa chọn phương pháp peel AHA, từ peel nhẹ, trung bình, sâu. Nhưng tốt nhất là ra spa, clinic để được tư vấn kỹ hơn và có các tay nghề peel chuyên nghiệp để không peel lố thời gian nhé mn!

Mình sẽ thiết lập 1 cái bảng để dưới dây nhằm thống kê lại các phương pháp sử dụng AHA cho mọi người tùy theo mục đích nhé!

Bảng 4 : Phương pháp sử dụng AHA theo mục đích vào từng loại da (tổng tợp từ các bài nghiên cứu trên và có bổ sung ý kiến tác giả)

References

  1. Leslie Bauman, MD. Cosmetic of Dermatology. Basic Concepts of Skin Science.
  2. Van Scott EJ, Yu RJ. Control of keratinization with the α­­­-hydroxy acids and related compounds. Arch Dermatol. 1974¸110, 586 – 590.
  3. Okano Y, Abe Y, Masaki H, Santhanam U, Ichihashi M, Funasaka Y. Biological effects of glycolic acid on dermal matrix metabolism mediated by dermal fibroblasts and epidermal keratinocytes. Exp Dermatol. 2003, 12 Suppl 2:57–63.
  4. Bernstein EF, Lee J, Brown DB, Yu R, Van Scott E. Glycolic acid treatment increases type I collagen mRNA and hyaluronic acid content of human skin. Dermatol Surg. 2001;27(5):429–433.
  5. Ditre CM, Griffin TD, Murphy GF, et al. Effects of α-hydroxy acids on photoaged skin: a pilot clinical, histologic, and ultrastructural study. J Am Acad Dermatol. 1996;34(2Pt1):187–195.
  6. Modified from Van Scott EJ, Yu RJ. Actions of α hydroxy acids on skin compartments. J Geriatr Dermatol. 1995;3(Suppl3):19A–25A.
  7. Kim SJ, Won YH. The effect of glycolic acid on cultured human skin fibroblasts: cell proliferative effect and increased collagen synthesis. J Dermatol. 1998;25:85–89.
  8. Bernstein EF, Underhill CB, Lakkaakorpi J, et al. Citric acid increases viable epidermal thickness and glycosaminoglycan content of sun-damaged skin. Dermatol Surg. 1997;23(8):689–694.
  9. Kessler E, Flanagan K, Chia C, Rogers C, Glaser DA. Comparison of alpha- and beta-hydroxy acid chemical peels in the treatment of mild to moderately severe facial acne vulgaris. Dermatol Surg 2008; 34: 45–50; discussion 1.
  10. Abels C, Kaszuba A, Michalak I, Werdier D, Knie U, Kaszuba A. A 10 % glycolic acid containing oil-in water emulsion improves mild acne: a randomized double-blind placebo controlled trial. J Cosmet Dermatol 2011; 10: 202–9.
  11. Newman N, Newman A, Moy LS, Babapour R, Harris AG, Moy RL. Clinical improvement of photoaged skin with 50 % glycolic acid. A double-blind vehicle-controlled study. Dermatol Surg 1996; 22: 455–60.
  12. Ditre CM, Griffin TD, Murphy GF, Sueki H, Telegan B, Johnson WC, Yu RJ, van Scott EJ. Effects of alphahydroxy acids on photoaged skin: a pilot clinical, histologic, and ultrastructural study. J Am Acad Dermatol 1996; 34: 187–95.
  13. Yamamoto Y, Uede K, Yonei N, Kishioka A, Ohtani T, Furukawa F. Effects of α-hydroxy acids on the human skin of Japanese subjects: the rational for chemical peeling. J Dermatol. 2006;33(1):16–22.
  14. Sarkar R, Kaur C, Bhalla M, Kanwar AJ. The combination of glycolic acid peels with a topical regimen in the treatment of melasma in dark-skinned patients: a comparative study. Dermatol Surg. 2002;28(9):828–832.
  15. Dayal S, Sahu P, Dua R. Combination of glycolic acid peel and topical 20% azelaic acid cream in melasma patients: efficacy and improvement in quality of life. J Cosmet Dermatol. 2017;16(1):35–42.
  16. Van Scott EJ, Yu RJ. α hydroxy acids. Therapeutic potentials. Can J Dermatol. 1989;1:108–112.
  17. Kligman A. Result of a pilot study evaluating the compatibility of topical tretinoin in combination with glycolic acid. Cosmet Dermatol. 1993;6:28–32.
  18. Elson ML. Differential effects of glycolic acid and tretinoin in acne vulgaris. Cosmet Dermatol. 1992;5:36–40.
  19. Briden ME, Rent-Pellerano MI. Treatment of rosacea with glycolic acid. J Ger Dermatol. 1996;4(SB):17B–21B
  20. Berstein EF, Green B, Edison B, et al. Poly hydroxy acids: clinical uses for the next generation of hydroxy acids. Skin Aging. 2001;9:4–11.
  21. Draelos ZD, Green BA, Edison BL. An evaluation of a polyhydroxy acid skin care regimen in comgination with azelaic acid 15% gel in rosacea patients. J Cosmet Dermatol. 2006;5:23–29.
  22. Akamine KL, Gustafson CJ, Yentzer BA, et al. A double-blind, randomized clinical trial of 20% alpha/poly hydroxy acid cream to reduce scaling of lesions associated with moderate, chronic plaque psoriasis. J Drugs Dermatol. 2013;12(8):855–859.
  23. Kostarelos K, Teknetzis A, Lefaki I, Ioannides D, Minas A. Double-blind clinical study reveals synergistic action between alpha-hydroxy acid and betamethasone lotions towards topical treatment of scalp psoriasis. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2000;14(1):5–9.
  24. AMY B. LEWIS AND KATHLEEN C. SUOZZI. 52 – α-Hydroxy Acids. Comprehensive Dermatologic Drug Therapy (Fourth Edition) 2021, Pages 585-591.e2
  25. Smith WP. Comparative effectiveness of α-hydroxy acids on skin properties. Intl J Cosmet Sci. 1996;18:75–83.
  26. Scientific Literature Review. On Glycolic and Lactic Acids, Their Common Salts, and Their Simple Esters. Final Report. April 7, 1995. Washington, DC: Cosmetic Ingredient Review; 1995.
  27. Dinardo JC. Studies show cumulative irritation potential based on pH. Cosmet Dermatol. 1996;9(suppl 5):12–13.
  28. Tsai TF, Bowman HP, Jee SH, Maibach HI. Effects of glycolic acid on light-induced skin pigmentation in Asian and Caucasian subjects. J Am Acad Dermatol. 2000;43(2Pt1):238–243.
  29. Kornhauser A, Wei R, Yamaguchi Y, et al. The effects of topically applied glycolic acid and salicylic acid on ultraviolet radiation induced erythema, DNA damage and sunburn cell formation in human skin. J Dermatol Sci. 2009;55(1):10–17.
  30. Cook KK. Chemical peeling of non-facial skin using glycolic acid gel augmented with TCA and neutralized based on visual staging. Dermatol Surg. 2000;26:994–999.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *