Review thành phần

Retinoids – Thần dược cho sắc đẹp? – P1

Tác giả: Lê Phước Thành Đạt

1) Định nghĩa
2) Phân biệt Retinoids, Retinol, Tretinoin
3) Lợi ích của Retinoids
4) Một số sản phẩm Retinoids gợi ý

Thuật ngữ “Retinoid” được dùng để gọi tên một nhóm thành phần hóa chất có liên quan đến Vitamin A, bao gồm các phái sinh của VitA quen thuộc như Retinol, Tretinoin, Adapalene và Tazarotene.

Khi tìm hiểu về các sản phẩm mỹ phẩm, cần nhớ rằng “Retinoids” là một thuật ngữ rộng lớn và không chỉ cụ thể một hợp chất nào đó. Loại retinoid duy nhất mà làn da của bạn có thể xử lý và hấp thụ ngay lập tức là retinoic acid (hay còn gọi là all-trans retinoic acid). Một số loại retinoids khác phải được chuyển hóa bởi enzymes của da thành retinoic acid trước khi làn da có thể hấp thụ và sử dụng.

 

Có 3 thế hệ retinoids khác nhau thường được sử dụng trong các mỹ phẩm thông dụng:

– Thế hệ 1: Bao gồm Retinol, Tretinoin (Retinoic acid, hay tên thương hiệu bạn thường nghe là Retin-A)

– Thế hệ 2: Bao gồm Etretinate và chất chuyển hóa Acitretin của nó

– Thế hệ 3: Bao gồm Adapalene (tên thương hiệu phổ biến là Differin) và Tazarotene (tên thương hiệu phổ biến là Tazorac).

*Ở đây mình chỉ đề cập một số loại dẫn xuất phổ biến (mặc dù Etretinate và Acitretin không quá phổ biến ở VN nhưng do là một trong những loại phổ biến nhất của Retinoids thế hệ 2 nên mình đưa vào), một số dẫn xuất khác như Retinyl Palmitate và Retinaldehyde thì thường ít được sử dụng hơn nên mình sẽ không phân tích sâu 2 hoạt chất này

** Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu còn xem Retinoids thu được từ Pyranones là thế hệ 4. Hợp chất như vậy có thể kể đến là Seletinoid G.

 

 

Hình 1.1: Các thế hệ Retinoids. Nguồn: Mukherjee et al., 2006, Retinoids in the treatment of skin aging: an overview of clinical efficacy and safety (Retinoids trong điều trị lão hóa da: Tổng quan về hiệu quả lâm sàng và mức độ an toàn)

Nói tóm gọn thì, sự khác biệt giữa các thế hệ Retinoids dựa trên cấu trúc phân tử của chúng. Trong cơ thế chúng ta, khi được hấp thụ vào, Retinoids bám vào nhiều nhóm proteins bao gồm retinoid-binding proteins (protein liên kết với retinoid) và thụ thể retinoid nuclear receptors (thụ thể hạt nhân retinoid). Trong nhóm Retinoid nuclear receptor bao gồm hai nhóm thụ thể Retinoic acid receptor (RAR) và Retinoid X receptor (RXR). Trong hai nhóm này sẽ có các thụ thế khác nhau (mỗi nhóm có 3 nhóm con, phân biệt là α, β, và γ), và mỗi thế hệ Retinoids sẽ liên kết với các thụ thể nhất định, dẫn đến tính chất của chúng khác nhau. Điều này cuối cùng dẫn đến việc kích hoạt các vùng điều hòa cụ thể của DNA – được gọi là retinoic acid response elements (các yếu tố phản ứng với axit retinoic) – liên quan đến việc điều chỉnh sự phát triển của tế bào, sự biệt hóa và quá trình tự hủy.

Thế hệ đầu tiên và thế hệ thứ hai của Retinoids có khả năng liên kết với nhiều thụ thể retinoids do tính linh hoạt được truyền bởicác liên kết đơn và đôi xen kẽ của chúng. Thế hệ thứ ba ít linh hoạt hơn và do đó, tương tác có chọn lọc với ít thụ thể retinoids hơn.

Như đã trình bày ở trên, Retinoids là một thuật ngữ chung để chỉ các dẫn xuất của Vitamin A, trong đó có 2 dẫn xuất phổ biến nhất là Retinol và Tretinoin:

– Tretinoin chuyển hóa trực tiếp thành retinoic acid. Bởi vì nó là một dạng retinoic acid, nên Tretinoin không cần phải được tác động bởi enzyme mà có thể được trực tiếp hấp thụ vào do. Do đó, Tretinoin mạnh hơn khoảng 20 lần so với các loại dược phẩm dạng kem retinol mà bạn có thể mua phổ biến tại các quầy thuốc.

 

 

– Retinol: Retinol phải thông qua hai phản ứng enzyme trước khi có thể trở thành retinoic acid, đầu tiên là quá trình oxy hóa đảo ngược của retinol thành retinal (retinaldehyd), và sau đó là quá trình oxy hóa thứ hai, lần này là không thể đảo ngược, thành retinoic acid. Do đó, Retinol được tổng hợp từ retinol thông qua hai phản ứng enzyme, liên quan đến quá trình oxy hóa đảo ngược đầu tiên của retinol thành retinal (retinaldehyd), và sau đó là quá trình oxy hóa thứ hai, lần này là không thể đảo ngược, thành axit retinoic. Nó là một hợp chất nhạy cảm với ánh sáng, giống như các retinoid khác. Trọng lượng phân tử thấp của hợp chất cũng làm cho nó có khả năng hòa tan chất béo, có nghĩa là nó dễ dàng khuếch tán qua màng tế bào. Do phải chuyển hóa 2 bước nên Retinol sẽ tác động yếu hơn Tretinoin trên làn da của bạn.

 

 

Hai lợi ích chủ yếu của Retinoids là Khả năng chống lão hóa và Khả năng trị mụn

Trong nghiên cứu của Mukherjee và cộng sự vào năm 2006 cho thấy khả năng chống lão hóa tốt của Tretinoin, cũng như các phái sinh khác là Adapalene, Tazarotene và Retinol. Cụ thể hơn thì:

– Tretinoin: công dụng chống lão hóa của Tretinoin đã được nghiên cứu từ lâu và chuyên sâu. Một trong những nghiên cứu đáng chú ý là của Bhawan và cộng sự vào năm 1995: họ đánh giá sự thay đổi của làn da sau khoảng thời gian sử dụng kem tretinoin nồng độ 0.05% trong 12 tháng. Đáng chú ý là, sự thay đổi không rõ rệt trong 6 tháng đầu trong nhóm hạ bì, tuy nhiên sau 12 tháng, sự hình thành các sợi collagen đã được tìm thấy. Nghiên cứu này chỉ ra rằng để cải thiện mức độ đáng kể của da, cần hơn 6 tháng điều trị tretinoin và nghiên cứu cũng giải thích tại sao những thay đổi đáng chú ý chỉ được quan sát thấy sau hơn 6 tháng sử dụng tretinoin.

 

 

Bhawan và cộng sự tiếp tục có một nghiên cứu đáng chú ý khác vào năm 1996 về ảnh hưởng của việc sử dụng tretinoin lâu dài (4 năm) của 27 bệnh nhân, điều trị bởi tretinoin 0.05% và 0.01% trong 18 tháng đầu, sau đó 0.01% tretinoin cho 15 tháng sau đó và cuối cùng là 19 tháng với liều dùng tretinoin 0.025% hoặc 0.05% hàng ngày. Các nghiên cứu về mô học đã chỉ ra rằng lớp sừng trở nên nhỏ gọn trong 3 đến 6 tháng đầu khi sử dụng tretinoin trong khi nó trở lại bình thường trong giai đoạn 12 – 24 tháng và vẫn bình thường cho đến khi kết thúc trị liệu. Tương tự như vậy, độ dày lớp hạt và độ dày biểu bì đã tăng lên trong 3 Tháng 6 đầu tiên, trở lại bình thường sau 12 – 24 tháng và vẫn bình thường cho đến khi ngừng điều trị. Ngược lại, mucin ở lớp biểu bì tiếp tục tăng và melanin tiếp tục giảm trong suốt quá trình điều trị tretinoin. Những thay đổi trong 2 thành phần này tương quan rõ ràng với những thay đổi lâm sàng quan sát được.

 

Một nghiên cứu đáng chú ý về điều trị lão hóa bằng tretinoin là nghiên cứu của Griffiths và cộng sự (1995). Nghiên cứu báo cáocác quan sát được trong 48 tuần, với 90 người tham gia để so sánh hiệu quả lâm sàng và khả năng dung nạp của tretinoin ở hai nồng độ là 0.025 và 0.1%. Các tác giả đã quan sát thấy rằng cả nồng độ 0.025 và 0.1 đều cải thiện đáng kể các dấu hiệu lão hóa về mặt lâm sàng, tuy nhiên không có khác biệt đáng kể giữa hai nồng độ. Tuy nhiên, tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn đáng kể ở nhóm tretinoin 0.1% Do đó, Tretinoin có nồng độ thấp có thể là một lựa chọn tốt cho các người dùng không thể chịu được nồng độ tiêu chuẩn là 0.05%. Sau đó, Nykady và cộng sự (2001) đã thực hiện hai thí nghiệm trong 24 tuần để đánh giá hiệu quả và khả năng dung nạp của kem tretinoin 0.02% được sử dụng hàng ngày bởi 328 bệnh nhân có làn da bị ảnh hưởng lão hóa nặng bởi ánh nắng. Đáng ngạc nhiên là, cả hai nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện đáng kể trong các dấu hiệu lâm sàng của nếp nhăn, nếp nhăn thô, độ nông của các nếp nhăn và tăng sắc tố lốm đốm (chỉ trong 1 nghiên cứu). Hơn nữa, việc điều trị là an toàn và được dung nạp tốt ở hầu hết các bệnh nhân. Kem Tretinoin nồng độ 0.02% hiện được FDA công nhận để điều trị làn da lão hóa do ánh nắng.

 

– Retinol:

Các nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng retinol trên da sẽ giảm kích ứng hơn so với Tretinoin, bằng chứng là các dấu hiện ban đỏ da và kích ứng nhẹ hơn Tretinoin. Tuy vậy, trong các nghiên cứu của Kurlandsky và cộng sự năm 1994 và Kang và cộng sự năm 1995 cho thấy rằng Retinol yếu hơn Tretinol khoảng 20 lần là đòi hỏi phải được chuyển hóa thành retinoic acid để có thể hoạt động được. Tuy nhiên, kết cấu sản phẩm retinol sẽ đóng vai trò quan trọng đối với khả năng hoạt động của nó, bởi vì Retinol thì cực kỳ không ổn định và dễ dàng bị biến chất thành các dạng không hoạt động sinh học khi tiếp xúc với ảnh sáng và không khí

– Tazarotene:

Tazarotene cũng cho các kết quả khá tốt trong việc chống lão hóa, được thể hiện trong các bài nghiên cứu của: Kang, Leyden và cộng sự (2001), Lowe và cộng sự (2004), , Kang và cộng sự (2005). Bên cạnh đó, một kết luận khá thú vị được rút ra là Tazorac 0,1% có tác dụng chống lão hóa tương tự Tretinoin 0.5%, tuy vậy các phản ứng kích ứng da lại mạnh hơn tretinoin.

– Apalene:

Adapalene nhắm đến mục tiêu là sự tẩy da bất thường, điều chỉnh sự biệt hóa tế bào và đồng thời nó cũng sở hữu các đặc tính chống viêm ( theo nghiên cứu của Leyden, 2001). Hơn nữa, do sự chọn lọc thụ thể của nó, nó gây ra kích ứng da ít hơn. Adapalene đang được sử dụng thành công để điều trị mụn trứng cá. Tuy nhiên, không có nhiều nghiên cứu được thực hiện để điều tra và xác định tiềm năng của nó trong việc chống lão hóa và lão hóa do ánh nắng. Cho đến nay chỉ có một nghiên cứu được thực hiện để xác định tiềm năng của Adapalene trong việc chống lão hóa do ánh nắng, đó là nghiên cứu của Kang và cộng sự vào năm 2003. Kết luận nghiên cứu chỉ ra rằng có sự cải thiện trong khả năng làm sáng da, giảm hàm lượng melanin trong biểu bì cũng như sự cải thiện đáng kể các nếp nhăn và các dấu hiệu lão hóa do ánh nắng. Bên cạnh đó, Adapalene cũng được đáp ứng rất tốt bởi cá bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Do đó, Adapalene có thể được sử dụng như một biện pháp chống lão hóa do ánh nắng thay thế cho Tretinoin trong trường hợp làn da của người sử dụng quá nhạy cảm với Tretinoin

Tất cả các nhóm phái sinh phổ biến của Retinoids đều có khả năng trị mụn tốt.

Các nhóm chuyên gia da liễu tập trung vào mụn trứng cá luôn khuyến cáo rằng hầu hết bệnh nhân bị mụn trứng cá nên được điều trị bằng sự kết hợp giữa Retinoids và liệu pháp kháng khuẩn tại chỗ. Điều này dựa trên dữ liệu lâm sàng cũng như bằng chứng cho thấy các nhóm thuốc này có các cơ chế hoạt động khác nhau và bổ sung cho nhau nhằm tác động vào nhiều khía cạnh của sinh lý bệnh phức tạp của mụn trứng cá. Các hướng dẫn gần đây về mụn trứng cá, bao gồm cả những hướng dẫn từ Học viện Da liễu Hoa Kỳ (AAD) và Diễn đàn Da liễu Châu u (EDF), đã đồng ý rằng retinoids có vai trò thiết yếu trong căn bệnh phổ biến này. AAD tuyên bố Retinoids là cốt lõi của liệu pháp điều trị tại chỗ đối với mụn trứng cá.

 

Retinoids bôi ngoài da (adapalene 0,1% và 0,3%; tazarotene 0,1%; tretinoin 0,01%, 0,025%, 0,038%, 0,04%, 0,05%, 0,08% và 0,1% ở Hoa Kỳ; isotretinoin 0,05% và 0,1% ở các khu vực khác thế giới) có vai trò trung tâm trong trị liệu mụn trứng cá vì chúng đã được chứng minh là vừa làm giảm các tổn thương có thể nhìn thấy, vừa ức chế sự phát triển của microcomedone (mụn nhân nhỏ) và các tổn thương mụn mới (theo Thielitz A và cộng sự, 2008)

 

Một điều thú vị là trong khi khả năng chống lão hóa không bị ảnh hưởng nhiều bởi nồng độ, thì đối với việc trị mụn, nồng độ tretinoin có ảnh hưởng khá lớn vì hiệu quả trị mụn của Retinoids dạng bôi tăng lên khi nồng độ tăng lên. Tretinoin lần đầu tiên được chứng minh là có tác dụng phụ thuộc liều là ở các nghiên cứu trên động vật. Trong hai nghiên cứu siêu cấu trúc riêng biệt, liệu pháp bôi tretinoin trong 12 tuần (0.1% và 0.025%) đã làm giảm 80% và 35% microcomedones (mụn nhân nhỏ) tương ứng. Các nghiên cứu về Adapalene cũng cho thấy kết quả tương tự khi so sánh nồng độ 0.3% và 0.1%, và cả 2 nồng độ đều được quan sát là đáp ứng và dung nạp tốt trên các bệnh nhân.

 

Cơ sở khoa học cho việc sử dụng retinoids tại chỗ trong mụn trứng cá là rõ ràng. Dữ liệu lâm sàng từ nhiều ngàn bệnh nhân cho thấy Retinoids này có hiệu quả cao trên cả các tổn thương mụn không viêm và viêm. Các nhóm chuyên gia và hướng dẫn đồng ý rằng Retinoids dạng bôi nên được coi là nền tảng của liệu pháp trị mụn.

 

Tretinoin cũng được xem là có hiệu quả trong việc làm đều màu da, trị thâm (mặc dù không có hiệu quả quá cao) và cải thiện cấu trúc da. Như các nghiên cứu đã trích dẫn ở trên, tretinoin có tác dụng làm sáng các tổn thương để lại do mụn và do đó, giúp da hồi phục và cải thiện sắc tố da, giúp da đều màu hơn. Bên cạnh đó, khi làn da hết mụn thì cấu trúc da cũng được khôi phục, làn da trở nên mịn màng hơn. AHA có thể được kết hợp vào chu trình nếu bạn muốn làm làn da của mình mịn màng hơn.

 

d) Một số sản phẩm Retinoids gợi ý

– Tretinoin:

+ Obagi:

 

 

 

Nói về Tretinoin thì không thể không nhắc tới thương hiệu dược mỹ phẩm Obagi. Obagi được nhiều người biết đến là một thương hiệu dược mỹ phẩm với các sản phẩm chất lượng và dòng sản phẩm Tretinoin của thương hiệu cũng không ngoại lệ. Mặc dù có nhiều loại kem tretinoin nhưng tretinoin của Obagi có đặc điểm là rất ít thành phầnkhông chứa cồn, màu và hương liệu nên sẽ hạn chế tối đa các kích ứng không mong muốn lên da.

 

+ Galderma:

Galdema cũng là một thương hiệu dược mỹ phẩm nổi tiếng với các sản phẩm chứa các hoạt chất điều trị da, và tretinoin của hãng cũng là một sản phẩm đáng để trải nghiệm. Sản phẩm Tretinoin của Galderma giá rất hợp lý, phù hợp với các bạn chưa có khả năng trải nghiệm Obagi. Sản phẩm ngoài Tretinoin còn chứa nhiều các chất chống Oxy hóa và làm mềm, dưỡng ẩm da giúp da dễ dung nạp Tretinoin hơn. Tuy vậy, nhiều thành phần hơn đồng nghĩa với việc khả năng có thể kích ứng cao hơn các Tretinoin khác.

 

– Adapelen:

 

 

+ Differin: Adapalene cũng là một sản phẩm trị mụn hiệu quả và bạn có thể tìm mua Differin để trải nghiệm. Sản phẩm không chứa hương liệu và giá thành phải chăng, phù hợp với nhiều bạn muốn thử Adapalene trị mụn. Đặc biệt, do Adapalene nhẹ dịu hơn Tretinoin nhiều nên mình nghĩ nhiều bạn sẽ dung nạp và đáp ứng tốt với Adapalene. Sau khi chữa trị mụn, làn da khỏe hơn thì bạn có thể chuyển sang Tretinoin 0.025% để ngăn ngừa lão hóa.

 

– Retinol:

 

+ Clinical 1% Retinol Treatment – Paula’s choice: sản phẩm Retinol khá tốt của Paula choice, chứa Retinol 1% cùng với Peptides và Vitamin C, giúp vừa mang lại hiệu quả của retinol và vừa cung cấp Peptides giúp da giảm kích ứng khi sử dụng Retinol. Sản phẩm còn chứa các chất giúp làm mềm da và phục hồi da. Mặc dù phần lớn thành phần đều lành tính, tuy vậy mình vẫn cảm thấy đây có thể là một điểm trừ của sản phẩm do càng nhiều thành phần thì khả năng kích ứng càng cao.

 

Mặt khác, mình đánh giá cao sản phẩm này cao ở phần bao bì. Bao bì sản phẩm là chai nhựa, ánh nắng không thể xuyên qua nên giúp bảo quản Retinol tốt. Ngoài ra, dạng pump cũng giúp hạn chế tối đa khả năng Retinol bị ảnh hưởng bởi không khí, do đó sẽ giúp Retinol được bảo quản tốt hơn, phát huy công dụng tốt hơn trong thời gian dài hơn.

 

*Mình không đề cập đến Tazarotene vì mặc dù Tazarotene có hiệu quả tốt trong trị mụn và chống lão hóa nhưng khả năng gây kích ứng da khá cao, bạn nên sử dụng Adapalene hoặc sử dụng trực tiếp Tretinoin sẽ mang kết quả tốt hơn và ít kích ứng hơn.

—————————–

Part 1:

1) Khalil và cộng sự, 2017. Retinoids: a journey from the molecular structures and mechanisms of action to clinical uses in dermatology and adverse effects. Journal of Dermatological Treatment

2) Mukherjee và cộng sự, 2006. Retinoids in the treatment of skin aging: an overview of clinical efficacy and safety.

3) Leyden, Stein-Gold và Weiss, 2017. Why Topical Retinoids Are Mainstay of Therapy for Acne

4) Thielitz A, Abdel-Naser MB, Fluhr JW, Zouboulis CC, Gollnick H, 2008. Topical retinoids in acne–an evidence-based overview. J Dtsch Dermatol Ges

5) https://stackedskincare.com/blogs/blog/the-difference-between-retin-a-retinol-retinoid

6) https://en.wikipedia.org/wiki/Retinoid

7) https://www.news-medical.net/health/What-is-Retinoic-Acid.aspx

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *